Câu hỏi này người mới hay đặt sai: hỏi vườn bao nhiêu mét vuông thì nuôi được mấy tổ.
Diện tích gần như không liên quan. Cái quyết định là nguồn hoa trong bán kính vài trăm mét và thời gian mình có.
Ong dú bay quanh quẩn ba tới năm trăm mét. Vùng kiếm ăn của đàn phủ cả xóm chứ không riêng vườn nhà.
Vườn nhỏ nhưng xung quanh nhiều hoa thì vẫn nuôi được kha khá. Vườn rộng mà quanh đó trống trải thì nuôi ít cũng đã chật.
Ở Đà Nẵng, nguồn chính gồm cây xanh đường phố, hoa ban công, keo vùng gò. Cách ước lượng: đi bộ vòng quanh nhà bán kính bốn trăm mét, đếm chỗ có hoa.
Làm việc này hai lần, một lần giữa mùa mưa và một lần vào tháng 5 đến tháng 8. Chênh lệch giữa hai lần cho biết quãng trống nặng tới đâu.
Dựa trên các hộ nuôi ở Đà Nẵng, chỉ để hình dung chứ không phải công thức.
| Hoàn cảnh quanh nhà | Số tổ thường gặp | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nhà phố, ít cây xanh | Vài tổ | Chủ yếu chơi, mật ít |
| Vườn nhà có cây xanh đường phố, hoa ban công | Chục tổ | Đủ mật dùng và biếu |
| Vườn rộng, quanh nhiều vườn khác | Vài chục tổ | Bắt đầu có mật bán |
| Gần nguồn hoa tự nhiên phong phú | Nhiều hơn | Cần thời gian chăm nhiều |
| Quanh trống trải hoặc trồng thuần | Ít | Phải trồng bổ sung trước |
Đàn nào cũng lửng lơ, không đàn nào bứt lên. Quân vừa đủ, mật vừa đủ, năm này qua năm khác không khá hơn.
Sản lượng trên mỗi tổ giảm dần dù tổng số tổ tăng. Đây là dấu hiệu rõ nhất, và chỉ thấy được nếu có ghi chép.
Đến tháng 5 đến tháng 8 thì cả loạt cùng suy một lúc, vì tất cả đều ăn chung một nguồn đã cạn.
Gặp mấy dấu hiệu này thì hoặc trồng thêm hoa, hoặc chuyển bớt tổ sang chỗ khác cách vài trăm mét, đừng cố nuôi thêm.
Đây là giới hạn thật mà ít người tính. Mỗi tổ tuy ít việc nhưng cộng lại thì đáng kể.
Người đi làm giờ hành chính, cuối tuần mới rảnh, thì mươi tổ là vừa. Nhiều hơn thì có tuần bỏ bê, mà bỏ bê đúng lúc kiến vào là mất đàn.
Ở Đà Nẵng thì hơi muối từ gió biển làm gỗ mau mục, kim loại mau gỉ, nên việc kiểm tra hằng tuần càng không được lơi.
Cách hợp lý là tăng dần theo sức mình chứ không theo tham vọng.
Nếu đất rộng thì chia tổ thành vài cụm cách nhau vài trăm mét, thay vì dồn một chỗ.
Mỗi cụm có vùng ăn riêng, đỡ tranh nguồn.
Trong cụm thì các tổ cách nhau một hai mét, cửa quay hướng khác nhau để ong không bay nhầm.
Cách này cho phép nuôi nhiều hơn mà không quá tải nguồn hoa của một điểm.
Một tới hai mét, cửa quay hướng khác nhau để tránh ong bay nhầm tổ.
Có, nếu vượt sức chứa của nguồn hoa quanh đó. Tổng có thể tăng nhưng mỗi tổ yếu đi.
Sau một mùa khô. Đó là lúc mọi giới hạn lộ ra hết.
Nên, nếu có điều kiện. Chia thành vài cụm cách nhau vài trăm mét thì mỗi cụm có vùng ăn riêng.
Tuỳ nguồn hoa quanh nhà. đô thị ven biển, phần lớn nuôi trên sân thượng và vườn nhỏ trong phố nên phải tự khảo sát chứ không có con số chung.
Cùng một loài ong nhưng mỗi vùng lại có cách nuôi riêng. Những mô hình đang chạy được ở Đà Nẵng và lý do chúng hình thành như vậy.
Mô hình nhỏ nhất và cũng phổ biến nhất. Cách bố trí, số tổ hợp lý và những điều cần biết khi nuôi ngay trong sân nhà ở Đà Nẵng.
Ong thụ phấn cho vườn, vườn cho ong nguồn hoa. Nghe rất thuận nhưng có mấy chỗ xung đột thật sự cần giải quyết khi làm ở Đà Nẵng.
Liệt kê các khoản phải chi khi bắt đầu, khoản nào bắt buộc và khoản nào có thể tự làm hoặc hoãn lại, tính theo điều kiện thực tế ở Đà Nẵng.
Đặt tổ ở đâu, cách nhau bao xa, hướng cửa quay về phía nào. Những nguyên tắc bố trí khu nuôi ong dú cho vườn nhà tại Đà Nẵng.
Ba vấn đề đặc thù của Đà Nẵng và cách người nuôi tại chỗ đang xử lý. Biết trước thì chuẩn bị được, thay vì mất đàn rồi mới hiểu ra.
Nuôi ong dú tại Đà Nẵng: đô thị ven biển, nắng nóng mùa hè, bão tháng 9–11, gió biển mang muối. Phần lớn nuôi trên sân thượng và vườn nhỏ trong phố, kết hợp cây cảnh.